Chính sách triều Nguyễn “mở cửa” hay “đóng cửa”?

Có một điểm hầu như được giới sử học nhất trí là: Bước sang thế kỷ XIX, xu thế phát triển của xã hội Việt Nam có những chuyển biến mới. Từ năm 1802, triều Nguyễn thống trị một quốc gia thống nhất, giữ vững an ninh chính trị, phát triển kinh tế - văn hoá, “mở cửa” cho đất nước vươn ra thế giới bên ngoài, kích thích sản xuất hàng hoá và giao lưu trong nước…

Nếu như một số tư liệu của những người nước ngoài có mặt ở nước ta thời Nguyễn đáng được tham khảo, thì hình như tình hình kinh tế và công thương nghiệp nói riêng, đặc biệt hoạt động ngoại thương Việt Nam hồi nửa đầu thế kỷ XIX không phản ánh những yêu cầu và xu thế thời đại. Có thể dẫn ra đây vài đoạn ghi chép của một người Mỹ đến nước ta hồi cuối đời Gia Long tên là John white trong cuốn một chuyến hành trình đến xứ Cochinchina (A voyage to Cochinchina - Boston, 1823).

J. White đã viết về tình hình buôn bán dọc ven biển phía Nam như sau: “Việc buôn bán ven biển xứ này có vẻ hoạt động nhưng chỉ là giả tạo thôi, vì hàng hoá trên các thuyền bản địa không đáng bao nhiêu. Thuyền buôn không bao giờ đủ hàng để trao đổi, vì nhà vua buộc mỗi thuyền phải chở cho triều đình một số hàng, thường là gạo, thực phẩm cho quân lính, gỗ và vật liệu xây dựng, quân nhu cho các đạo binh”. Riêng về ngoại thương, tác giả viết: “Nền thương mại của xứ Cochinchina hiện nay chẳng còn gì so với trước kia (…). Tất cả số đường sản xuất năm 1819, từ Đồng Nai đến Nha Trang chỉ được hơn 2000 piculs (1 piculs = 62 kg 500) và hai chiếc tàu của chúng tôi đã mua hết. Việc buôn bán với Ma Cao hoàn toàn bị cắt đứt. Thời gian tôi ở Sài Gòn, có hai tàu Pháp đến Đà Nẵng và Huế. Bỏ neo năm tháng, họ chỉ được nửa số đường và một ít tơ sống, và đó cũng là sản phẩm chủ yếu hàng năm của các tỉnh phía Nam ”. Về hoạt động ở Hội An, Đà Nẵng, J. White cho biết: “Trên đường tới Đà Nẵng, chúng tôi qua cảng và thành phố Hội An. Trước đây, Hội An là thị trường của các tỉnh phía Bắc… Người Bồ (ở Ma Cao) và người Nhật đã từng có hoạt động thương mại rất nhộn nhịp ở cảng này. Nhưng bây giờ Hội An rất nghèo nàn, hoang phế, rất ít khi hoặc chẳng bao giờ được tàu bè đến thăm, ngoài các thuyền địa phương và vài thuyền nhỏ từ phía Bắc vào”. Còn Đà Nẵng “vốn là một trong những vịnh biển đẹp nhất thế giới (…), trước đây là một thành phố cảng đông đúc, nay chỉ còn là một thành phố tồi tàn, bẩn thỉu”.

Giải thích tình trạng ngoại thương sa sút, tác giả viết: “tính cách tham tàn, thất tín, chuyên chế và ức hiếp buôn bán của nhà cầm quyền đã biến xứ Cochinchina thành một nơi không được người ta ưa thích nữa. Vì vậy mà người Nhật từ bỏ buôn bán, người Bồ cũng chuyển hoạt động của họ sang hướng khác… Những ai vị tha, và cả thế giới văn minh nói chung, chỉ có thể nhận thấy ở đất nước có thiên nhiên tươi đẹp này không khác gì hơn là một nỗi ân hận và thương hại sâu sắc”.

Trên thực tế, ở nửa đầu thế kỷ XIX vẫn thỉnh thoảng có tàu buôn phương tây (Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Mỹ) đến đặt quan hệ thông thương, nhưng triều đình thì từ chối, quan lại các cấp thì ăn hối lộ trắng trợn. J. White viết: “Người ta có thể liệt kê một bảng danh mục vô tận về các chức quan cấp dưới, mà bất cứ ai muốn thương lượng một công việc buôn bán ở xứ này đều phải đút lót cho họ”.

Nếu những tư liệu trên đây phần nào tin cậy được, thì hình như các vua triều Nguyễn - từ Gia Long đến Minh Mạng - không có chủ trương “mở cửa” đất nước. Chỉ sau hai lần đến Việt Nam, J. White đã có những nhận xét về triều Nguyễn: “Một ông vua có hiểu biết và theo đuổi các quyền lợi thực sự của đất nước sẽ chưa xây dựng những kinh thành như Huế mà tìm nguồn lợi phong phú ở biển cả, dưới sự bảo vệ của thuỷ quân mạnh (…).Ông vua đó sẽ bãi bỏ những hạn chế phiền hà kìm hãm nền thương mại và mời các láng giềng cùng người nước khác tham gia vào việc phát triển xứ sở một cách tự do. Đó cũng là cách làm giàu cho đất nước ông, vừa du nhập được công nghệ văn minh, tiên tiến hơn. Nhưng e rằng điều này sẽ không sớm được thực hiện, vì thái tử kế vị ngai vàng xứ Onam (ý nói Minh Mạng) là một người keo kiệt hẹp hòi…”.

Tại sao không “mở cửa”?

Theo những tư liệu hiện có, hình như các vua Nguyễn đã không lựa chọn đường lối “mở cửa đất nước” mà chỉ tập chung vào những biện pháp bảo vệ sự thống nhất lãnh thổ và an ninh chính trị.

Vấn đề đặt ra cho chúng ta hôm nay là vì sao các vua nguyễn không chọn “quốc sách mở cửa”? Có ý kiến cho rằng: Hậu sinh chúng ta không thể đòi hỏi các vua Nguyễn “mở cửa”, vì một lẽ đơn giản rằng “bản chất của phong kiến là “đóng” chứ không phải “mở”, “mở” là nguy ngay. Và trên thực tế, xã hội Việt Nam cho đến năm 1990 chưa có yêu cầu “mở cửa”” .

Nhiều ý kiến khác trái lại, cho rằng Việt Nam ở thế kỷ XIX cần phải “mở cửa” mới phù hợp xu thế và yêu cầu thời đại, thậm chí đó là yêu cầu cấp bách, sống còn của dân tộc; nhưng phải tìm hiểu vấn đề trong bối cảnh lịch sử cụ thể của nó. Không nên trách các vua Gia Long, Minh Mạng một cách quá đơn giản, vì bấy giờ “mở cửa” hay không, còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan, trong đó có âm mưu và thách thức của tư bản Pháp.

Các vua Nguyễn không phải không ý thức được vấn đề “mở cửa”, nhưng không dám thực hiện vì “sợ mất độc lập, trong lúc một biện pháp thích hợp hơn thì lại chưa thấy”.

Vậy thì phải chăng ở đây lại có vấn đề “bản lĩnh” của người Việt Nam trước thách đố của thời đại? Về điểm này, có lẽ người Nhật có lợi thế hơn người Việt Nam chăng?

Có ý kiến thận trọng hơn: Vấn đề quả là phức tạp, vì triều Nguyễn bị nhiều chi phối, ràng buộc. Lựa chon quốc sách “mở cửa” chưa chắc tình hình đã diễn biến như Nhật Bản, nếu như “quốc sách” đó chưa thuyết phục được quần thần, sĩ phu và nhiều tầng lớp khác.

Những nguồn tư liệu khác nhau gợi cho chúng ta một thực tế như sau: Ngay khi còn dựa vào các thừa sai Thiên Chúa giáo và người Pháp, trong thâm tâm Nguyễn Ánh đã bắt đầu nghi ngờ, gớm sợ người Pháp và các thừa sai. Vì vậy, sau khi lên ngôi, Gia Long muốn xa lánh họ, hơn thế, muốn cự tuyệt họ. Phương hướng giải quyết của Gia Long trong ngót 20 năm ở ngôi là cố sức giữ gìn mối quan hệ êm thấm với người Pháp và các thừa sai, vì thấy rằng ở hoàn cảnh của mình thì chưa thể “trở mặt” với họ được. Gia Long muốn kéo dài tình trạng nhùng nhằng đó cho đến hết đời mình và chuyển giao nhiệm vụ giải quyết vấn đề cho kẻ nối ngôi. Có thể nói Gia Long đã tiến hành khá êm đẹp chủ trương hai mặt này, êm đẹp đến mức nhiều người đương thời và cả sau đó nghĩ rằng đường lối đối ngoại của Gia Long là thân Pháp và rộng rãi đối với các thừa sai.

Nhưng dẫu Gia Long có thực hiện chủ trương hai mặt một cách khôn khéo và kiên trì đến mấy thì ý đồ thầm kín cũng không thể nào dấu mãi. Gia Long nguyên tắc là phải truyền ngôi và ông đã chọn Minh Mạng (trong khi về nguyên tắc là phải truyền ngôi cho người con của hoàng tử Cảnh). Nhiều đại thần như Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt thắc mắc thì Gia Long giải thích: “khi người ta chết mà còn để lại những món nợ trên đời thì chủ nợ thường tìm đến con mình chứ không phải cháu mình (phụ trải tử hoàn). Vì vậy Trẫm không thấy sai trái khi chọn một đứa con mà không chọn một đứa cháu”.

Thực ra, vấn đề không phải là “chọn con hơn chọn cháu” mà là phải chuẩn bị người kế vị có thể giải quyết rứt điểm “món nợ” mà vua cha đã “trót vay” của người Pháp và các thừa sai.

Một số tác giả trước đây trách Gia Long “thiếu sáng suốt”, ví như tác giả Louvet cho rằng: “Ông vua kế vị quyết định cự tuyệt người phương Tây…Chưa bao giờ vua Gia Long lại thiếu linh cảm bằng cái ngày ông quyết định một sự lựa chọn như vậy” (La Cochinchine religieuse - Pari, 1885). Về điểm này, tác giả Buttinger đã tinh tế hơn khi nhận thấy chính sách của Minh Mạng “về thực chất chỉ là sự thực hiện đường lối chính trị cơ bản của Gia Long mà thôi” (The smller dragon - Niu York, 1958).

Nhưng có lẽ vì tình thế bức bách nên vừa lên ngôi Minh Mạng đã tỏ ra hơi vội vã, thậm chí cứng rắn, không theo đúng lời căn dặn của cha mình là phải hết sức thận trọng trong việc xa lánh, tuyệt giao với người Pháp và các thừa sai lãnh sự Pháp không được thừa nhận, đặc sứ Pháp không được tiếp kiến, thuyền trưởng Pháp không được lên bờ… Cùng các chỉ dụ cấm Đạo Thiên Chúa liên tiếp được ban hành. Tác giả Etienne Danis cũng ghi nhận thực tế này như sau: “Trong khi các nước láng giềng, kể cả Trung Hoa - hoặc tự nguyện, hoặc cưỡng ép - đã mở cửa cho tàu thuyền và ảnh hưởng phương Tây, thì chính sách của Minh Mạng là cự tuyệt thẳng thừng mọi tiếp xúc “bạch quỷ” phương Tây” (Bordeaux et la Cochinchine - Pari 1965).

Vậy thì phải chăng các vua Nguyễn né tránh “mở cửa” và chọn con đường “đóng kín” đất nước, trên thực tế vẫn không ngăn chặn nổi thách thức và âm mưu xâm lược của thực dân Pháp. Mặt khác, cũng vì “đóng kín”, “cô lập” với thế giới bên ngoài cho nên từng chính sách cụ thể của triều Nguyễn tuy có những kết quả mang tính chất bộ phận, nhưng về cơ bản không có tác dụng khai thông con đường phát triển đầy bức xúc của nông nghiệp, nhất là công thương nghiệp, theo hướng đẩy mạnh giao lưu, mở rộng kinh tế thị trường trong và ngoài nước, tạo điều kiên cho đông đảo nông dân và nhiều tầng lớp khác bứt ra khỏi sự ràng buộc của cơ chế cũ.

Minh Mạng muốn “mở cửa” nhưng đã muộn

Cho đến những năm cuối của đơi mình, Minh Mạng đã được “đánh thức” do những biến động ở Trun Quốc, cụ thể là cuộc chiến tranh thuốc phiện (1840 - 1842). Hình như nhà vua bắt đầu nhận ra rằng những điều ước mà các nước phương Tây thực hiện ở Trung Quốc thì họ cũng có thể thực hiện ở Việt Nam . Và bắt đầu Minh Mạng “hé cửa” thăm dò.

Theo một bức thư của giáo sĩ Régéreau ngày 25 - 4 - 1840, thì trước đó gần hai tháng, Minh Mạng đã cử hai chiếc tàu đi Calculta và đi Batavia đẻ thăm dò động tĩnh của người Anh và người Hà Lan ở hai nơi này. Đồng thời, mạnh dạn hơn, Minh Mạng lại cử một tàu đi thẳng sang Pari và Luôn Đôn tìm hiểu quân lực, tài lực các nước Pháp, Anh và thăm dò khả năng ký kết những hiệp ước thương mại với Pháp. Phái bộ gồm bốn người (Trần Viết Xương, Tôn Thất Tường và hai thông ngôn) đến Pháp tháng 11 - 1840. Nhưng phái bộ không được tiếp kiến vua Louis Philippe, vì vua Pháp “coi Minh Mạng là kẻ thù của Thiên Chúa Giáo, mặc dù những diễn từ của Trần Viết Xương nhấn mạnh rằng triều đình Việt Nam sẵn sang thương thuyết về những điều kiện bang giao giữa hai nước” (L’Ambassade de Minh Mang auprè de Louis Philippe - BAVH, 1928). Bị thất bại ở Pháp, phái bộ sang Luôn Đôn nhưng cũng không thu được kết quả gì, đành quay lại Pháp, rời cảng Bordeaux trở về Huế; Nhưng về đến nơi thì Minh Mạng vừa mất ngày 20 – 1 - 1841.

Thiệu Trị rồi Tự Đức kế tiếp nhau trị vì một đất nước “đóng kín”. Phải chăng những biến chuyển mới không thận lợi cho khả năng “mở cửa”, vì rằng ý đồ xúc tiến buộc can thiệp vũ trang của thực dân Pháp đã được xác định. Vua Tự Đức càng xoay xở càng lúng túng, không còn cách nào khác là dấn sâu thêm vào con đường mà vua Gia Long đã “lựa chọn” và Minh Mạng đã “triển khai”.

Tóm lại, phải nhận rằng các vua Nguyễn - từ Gia Long, Minh Mạng cho tới Tự Đức “đã làm hết sức mình” nhằm xây dựng và bảo vệ quốc gia. Nhưng do cách lựa chọn đường lối cơ bản không phù hợp những yêu cầu của xã hội Viêt Nam hồi nửa đầu thế kỷ XIX, rút cuộc nền thống nhất quốc gia và an ninh chính trị vẫn không được bảo đảm, khối đoàn kết dân tộc vẫn không được củng cố, trí tuệ của dân chúng không được tập hợp, tiềm lực dân tộc không được bồi dưỡng…, và đất nước (dù muốn hay không) đã biến thành miếng mồi ngon cho thực dân pháp, trước khi họ thực sự nổ súng xâm lược. Quyền thống tri tuyệt đối của dòng họ Nguyễn do vậy cũng không thực hiện được.

Hãy để lại ý kiến của bạn

أحدث أقدم

Bạn nên xem thêm bài này: